Tuesday, October 25, 2011

Rượu ngán Hạ Long

Ruou ngan Ha Long


Ngán luộc, ngán nướng, người ta có thể ăn ngay cũng rất ngon, nhưng khi đem pha chế thành rượu ngán thì sẽ trở thành một thứ đồ uống tuyệt hảo.

Rượu ngán có mùi thơm, một mùi thơm khó tả rất riêng của biển. Cái thú vị khi uống rượu ngán là được tự tay điều chế. Một ly rượu ngán chuẩn phải có màu hồng, có vị hơi mằn mặn, chan chát, có mùi thơm thì mới đúng là rượu ngán Hạ Long.

Uống rượu ngán Hạ Long ăn tôm hấp, sò huyết, ghẹ luộc, cá nướng, chả mực, hay bất kỳ một thứ hải sản nào cũng đều rất hợp.

Nem chua và Canh hà Quảng Yên

Nem chua va Canh ha Quang Yen


Nem chua Quảng Yên có thể sánh cùng nem chạo Thanh Hoá. Song mỗi nơi lại có hương vị riêng. Còn Canh hà Quảng Yên thì không đâu có. Đặc biệt là giống hà còn sống ở dòng sông Chanh. Đây là dòng sông cửa biển, có sự giao hoà giữa nước ngọt từ đồng bằng ra hoà với nước mặn của biển Hạ Long.

Hà sông Chanh đem nấu canh chua ăn rất ngon và có cả bốn mùa, nhưng thú vị nhất vẫn là được ăn vào những ngày hè nóng bức.

Chả mực bánh cuốn

Cha muc banh cuon


Trên khắp dải bờ biển Việt Nam nơi nào cũng có mực. Mực Nha Trang nổi tiếng là to, mực Hạ Long nổi tiếng là ngon bởi môi trường sống của nó.

Biển Quảng Ninh có nhiều loại mực: mực nang, mực ống, mực sim. Mực ống thường phơi khô đem nướng ăn. Còn mực sim, mực nang thì xào. Đặc biệt mực nang còn dùng làm chả mực rất ngon.

Cách chế biến chả mực đòi hỏi sự khéo tay và kinh nghiệm. Từ việc lựa con mực đến việc “giải phẫu” bỏ phần ruột và bọng mực, lớp da bên ngoài cho đến việc nêm gia vị, cách giã, cách rán. Chả mực khi mới rán xong có màu vàng ruộm, mùi thơm nức, vị đậm đà ăn với bánh cuốn hoặc xôi rất ngon.

Ở thành phố Hạ Long có dãy phố chuyên làm chả mực bánh cuốn ở cạnh rạp Bạch Đằng đã trở nên quen thuộc, nhiều người gọi là phố “Chả mực bánh cuốn”.

Cà Sáy Tiên Yên

Ca Say Tien Yen
 
Cà sáy là vịt lai ngan. Giống vịt lai ngan được dân địa phương thuần chủng và nuôi tại đây từ lâu đời. Người Tiên Yên làm thịt cà sáy và chế biến món nước chấm chuyên dùng của nó hết chỗ chê. Một thứ nước chấm có vị thơm của nước mắm Cái Rồng, Vạn Yên, Cát Hải, lại có vị ngọt ngào nồng ngậy của xá xị Quảng Tây cùng với vị cay dịu của gừng Tiên Yên trồng trên đất quê nhà.

Thịt cà sáy không phải vịt cũng chẳng phải ngan nhưng hương vị lại có cả hai và qua bàn tay người Tiên Yên chế biến thì lại ngon lên gấp bội.

Thursday, October 20, 2011

Bánh Đậu Xanh

Banh dau xanh



Bánh đậu xanh Hội An Bánh đậu xanh ở Hội An có lịch sử lâu đời. Từ thế kỷ thứ XVIII, bánh đậu xanh đã là một món quà có giá trị được cư dân địa phương dùng để dâng tặng các quan lại. Trong một lần Vua Minh Mạng tuần du vào Quảng Nam, cư dân ở đây đã dâng tiến loại bánh đậu xanh thượng hạng ở phố Hội An để ngài ngự dụng. Tiếng thơm nầy không phải ngẩu nhiên mà có. Cũng là đậu xanh, nếp, đường, nhưng chiếc bánh ở phố cổ Hội An có hương vị và cách trình bày riêng. Những chiếc bánh đậu xanh ở đây có dáng hình tròn hoặc vuông.

Cũng là bánh đậu xanh ướt nhưng nó không quá bở và mềm như bánh đậu xanh Hải dương. Nó có độ dẻo vừa phải để khi ngậm vào miệng không tan ngay. Một số loại bột thơm cũng được sử dụng khéo léo để tăng hương vị của bột đậu. Lại có loại bánh đậu xanh khô. Người ta trộn bột đậu xanh, nếp, đường theo một tỉ lệ vừa phải, cho vào khuôn nhỏ bằng gỗ để làm nên những chiếc bánh đậu xanh xinh xắn. Sau đó đem sấy bánh trên lò than để chúng săn cứng, giòn, thơm. Đặt biệt là loại bánh đậu xanh khô có nhân thịt. Đây chính là sản phẩm độc đáo của phố Hội và thật đáng tiếc cho ai đến Hội An mà bỏ qua dịp để nếm thử những chiếc bánh in nầy. Chúng vừa ngọt, vừa béo, vừa thơm, vừa giòn. Một sự pha trộn kỳ lạ mà chỉ có nghệ nhân tài hoa về ẩm thực mới có thể nghĩ ra và chế biến được. Tuy có nhân thịt nhưng do xử lý kỹ nên bánh có thể giữ được lâu từ nửa tháng đến một tháng mà không sợ bị ôi thiu. Ngày nay, những phong bánh in đã được bày bán nhiều nơi ở trong phố Hội An và rất được du khách ưa chuộng. Chúng đã góp phần tôn vinh truyền thống ẩm thực vốn có của cư dân nơi đây.

Bánh Ú Tro

Banh U tro


Hằng năm, vào ngày mồng năm tháng năm âm lịch, bà con Hội An và các vùng lân cận như: Điện bàn, Đà nẳng đổ về phố Hội An để mua bằng được vài trăm bánh ú tro về cúng ông bà tổ tiên và làm quà cho người thân, nhân dịp lể tết mông năm lại đến. Dân gian truyền rằng: vào thời chiến quốc tại nước Sở có một người tên là Khuất Nguyên vừa là một thầy thuốc vừa là một trung thần nhưng không đuợc vua trọng dụng. Ông trầm mình tại sông Mạch La thuộc nước Sở vào ngày 5 tháng 5 âm lịch. Từ đó về sau, đến ngày ấy, nhân dân mua bánh ú tro để cúng ông, vì bánh ú tro có 4 góc nên thả xuống nước cá không ăn được.

Phong tục đó dần được người Việt tiếp thu và chuyển hoá thành tết mồng năm với tục hái lá thuốc và giết sâu bọ khá đặc trưng. Dường như người ta không còn nhớ mình cúng ai vào ngày nầy nhưng bánh ú tro, thịt vịt, hoa quả thì phải sắm đủ. Bánh muốn ngon phải gói bằng lá kè tại núi ngoài Huế. Nếp phải lựa kĩ không cho lộn gạo tẻ, đải sạch ngâm với nước tro mè (Cây mè đốt lấy tro, hoà vào nước, lọc qua hồ cát) để qua đêm. Nước tro pha một ít phèn sa để bánh không bở. Nhờ nước tro mè mà hạt nếp nhuyễn thành bột. Chỉ có một muổng cafe nếp mà những chiếc bánh được sắp xếp vuông vức. Do vậy ông bà ta thường dạy: "Học ăn, học nói, học gói, hoc mở". Ngoài ra để có những chiếc bánh không sống, qua kinh nghiệm cho biết, khi nước sôi thì thắp một cây hương, đến khi hương tàn thì chín bánh. Chiếc bánh vừa mềm, vừa dẻo lại vừa dòn sựt sựt, nhưng ăn nó phải có đường cát thì mới hợp gu.

Xí Mà (Chí Mà Phù)

Xi Ma (Chi Ma Phu)


Tại phố cổ Hội an, bên cạnh những món ăn mang tính truyền thống địa phương còn có khá nhiều món ăn "ngoại nhập" từ những thế kỷ trước. Ngoài các món: Tàu Xá, Lường Phảnh, Xí Mà (Chí Mà Phù) là một trong những món ăn độc đáo, tiêu biểu, được đông đảo cư dân địa phương và du khách gần xa ưa thích. Nhiều người cho rằng, món ăn nầy có nguồn gốc từ Trung Hoa. Xí mà là tên gọi theo tiếng Quảng Đông ( Trung Quốc ).

Đúng ra phải đọc là "Chí Mà" nhưng từ lâu người ta đã đọc thành Xí Mà, mãi cho đến nay nhiều người vẫn quen gọi như thế. Nguyên liệu làm Xí Mà chính là mè đen, ngoài ra còn có các loại: bột khoai, thanh địa, rau má, rau mơ, đường, những thứ nầy toàn là những nguyên liệu sẳn có của địa phương, duy chi có thanh địa là một vị thuốc của đông y phải mua ở tiệm thuốc. Xí Mà được nấu trong nồi kim loại bình thường, khi chín người ta vẫn để nguyên trong nồi và gánh đi bán. Xí Mà chín có dạng hơi đặc như chè tàu xá, chè đậu xanh, nhưng lại có màu đen ít mùi, khi ăn thì mới nghe thoang thoảng mùi thơm của mè đen và mùi của rau mơ, rau má. Xí Mà là một món ngọt độc đáo, hấp dẫn khác xa những món ngọt thông thường về chất lẫn hương vị, nó không chỉ là món ăn ngon mà còn là một " thang thuốc bổ" bởi các nguyên liệu để nấu Xí Mà như là các vị thuốc để hợp thành " thang thuốc bổ" ấy.

Thu Minh và Ngày Phụ Nữ Việt Nam 20/10

















Posted by Picasa

Wednesday, October 19, 2011

Cá Nục Nấu Canh Chua

Ca nuc nau canh chua



Quảng Bình - nơi mảnh đất eo hẹp của miền Trung, nơi miền đất gió Lào cát trắng. Ở đây ngày xưa các thi sĩ đã ví "Gái Quảng Bình khí phách đọ Trường Sơn" thì bây giờ các cô, các bà sẽ tự tay nấu cho ta món canh chua đậm đà, khó quên...

Đúng vậy, ngoài những đặc sản biển Quảng Bình mà nhiều người biết đến ở đây còn có món ăn độc đáo mà không có người Quảng Bình nào lại không ưa thích.

Mùa hè, nhìn vào mâm cơm có đĩa rau sống, bát canh chua là đã thấy thèm. Vào mùa này, các chợ tràn ngập cá, những năm được mùa thì cá nục rất rẻ nhưng ăn lại ngon.

Cá nục hình thon, lưng xanh, bụng trắng, cá này nhỏ nhưng ăn béo và thơm. Ta có thể là sạch, nấu cách thủy cùng với ra sống kẹp bánh cuốn bánh tráng thì ăn khó quên. Song, cá nục nấu canh chua lại càng hấp dẫn hơn, nó chan(?ng thua gì cua nấu rau muống ở miền Bắc, lại chẳng thua cá lóc nấu canh chua miền Nam.

Còn dưa chua, đấy là những quả dưa non thái mỏng cùng với măng tre cho vào muối. Mua dưa này về nấu canh cá nục thì không còn gì bằng.

Cá chỉ cần làm sạch để nguyên con. Sau khi phi hành mỡ, cho dưa chua và nước vào nồi đun sôị Nước sôi cho cá vào đủ độ chín, bắc nồi canh xuống để cá không bị nát mà ăn ngọt. Cho hành lá, hạt tiêu vào nữa là ta cónồi canh chua ngon tuyệt.

Cá nục nấu canh chua không cầu kỳ, không sang trọng mà mộc mạc như tâm hồn người Quảng Bình. Các bạn ghé Quảng Bình xin một lần thưởng thức hương vị món ăn dân dã này của quê tôi!

Nộm sứa

Nom sua


Vào những ngày hè nóng bức, du khách có dịp về  Quảng Bình sẽ được thưởng thức món nộm sứa. Đây là món ăn lạ miệng rất thích hợp trong mùa nắng nóng, vừa ngon, vừa mát, lại rẻ tiền.

Con sứa trông giống như thực vật nhưng lại là động vật thuộc loại xoang trường cùng họ với san hô. Thân sứa trong suốt như thủy tinh, mềm mại như chiếc lá, mang đủ mầu sắc, từ xanh dương, hồng cho đến tim tím... Sứa chứa 95% nước biển, nếu đem phơi nắng suốt 12 giờ liền trên bãi cát thì toàn thân sứa sẽ mỏng ra như tờ giấy.

Mùa hè là mùa sứa nổi. Từng thảm sứa di động trên mặt biển trông như vườn hoa sặc sỡ. Sứa không có mắt, không có vây, không có tai, không có đuôi và cũng không có xương... thế mà sứa chịu đựng được mọi sóng to gió lớn. Người đi biển gặp thảm sứa, lấy dây buộc lại và dùng thuyền máy kéo lôi vào bờ. Sứa được đưa lên bãi cát và ngư dân dùng dao sắc cắt thân sứa ra làm nhiều mảnh. Sau đó còn cắt ra từng miếng nhỏ bằng ngón chân cái, trông giống như cái tai gọi là sứa tai. Còn chân sứa cũng đem cắt nhỏ gọi là sứa chân. Sứa tai trong suốt mọng nước, ngả mầu xanh dương trong khi sứa chân trắng đục, giòn như gân, sụn. Chính vì sứa chân ngon hơn sứa tai nên giá bán cũng đắt hơn.

Sứa đem "rộng" vào những chiếc thúng chai (thúng đan bằng nan tre có trét dầu chai) có chứa nước biển. Người bán sứa thường gánh đôi thúng, bày bán ở các chợ quê, chợ tỉnh. Khi nào có người mua, người bán mới vớt sứa ra và đong bằng chiếc chén đất. Sứa đem về rửa thật sạch bằng nước lã cho trôi hết cát và rong rêu, sau đó mới vớt ra đựng vào chiếc rổ nan tre cho ráo nước.

Muốn làm món nộm bằng sứa tai, người nội trợ phải khéo tay, xếp sứa lên một chiếc bát úp lọt lòng chiếc thau nhựa có kích cỡ vài tấc tây là có thể đủ ăn cả nhà. Nước sứa tiết sa, sẽ rút xuống đáy thau. Bấy giờ người đầu bếp mới rải lên mặt sứa một lớp gia vị đủ như loại lạc rang giã nhỏ, chuối chát non thái mỏng, xoài xanh băm nhỏ, ớt chín, rau răm, rau húng... thế là có món nộm sứa ngon lành.

Với sứa chân, người sành ăn có thể làm thành món nộm công phu và tốn kém hơn. Đem sứa chân thái nhỏ, rửa bằng nước đun sôi để nguội, sau đó trộn chung với thịt gà luộc hay thịt heo thái mỏng, thêm vào ớt chín, xoài xanh băm nhỏ, trứng luộc, lạ rang giã nhỏ, rau thơm các loại... khiến cho hương vị càng thêm đậm đà, khoái khẩu.

Nộm sứa ăn với cơm hay bánh tráng gạo (bánh đa) nướng chín chấm với nước mắm gừng nhâm nhi với ly rượu hay bia thì tuyệt.

Hiện nay, món nộm sứa đang bước vào thực đơn các nhà hàng như một món ăn đặc sản miền biển Quảng Bình.

Cá nghéo

Ca ngheo

Cá nghéo ít xuất hiện trên thị trường vì ngày càng hiếm. Người ta cho rằng bồi bổ cơ thể nên loại cá này dù có bắt được, ngư phủ cũng không bán ra chợ... Nếu đến Cửa Tùng, khách quý được ngư phủ thết đãi cá nghéo nấu lẩu, nấu cháo.

Tuy nhiên, món này thường xuất hiện ở các nhà hàng lớn, quán ăn đặc sản ở địa phương. Cá nghéo còn gọi là cá nhám bao tử có “họ hàng” với cá mập. Theo người dân địa phương, thịt cá đang “nghén” (có thai) rất bổ dưỡng. Nếu bắt được cá “nghén”, ngư dân làm rất kỹ lưỡng, lấy bọc trứng còn nguyên vẹn trần qua nước muối nấu âm ấm để làm sạch bọc trứng, cho vào nồi cháo ăn bồi bổ cơ thể sau bệnh.

Thịt cá làm được đủ món, món nào cũng ngon. Theo ngư dân vùng này, cá nghéo ngon nhất ở trọng lượng 1-2 kg. Khi cá đạt trọng lượng 3-4 kg là mang thai. Phải làm cá kỹ vì không khéo cá gây mùi tanh, rất khó ăn. Làm cho cá chết rồi nhúng nước ấm cạo nhớt trên da mà theo cách gọi của người địa phương là “làm lông”, tương tự như xử lý nhớt trên con lươn ở miền Tây. Đầu bếp làm da kỹ nhưng nhẹ nhàng để giữ lớp da ngon và mềm mại của cá. Sau khi làm sạch, tách hai miếng phi-lê dọc xương sống rồi để cắt thành miếng vừa ăn rồi tẩm ướp gia vị trong vòng 30 phút dùng để nhúng lẩu. Phần còn lại nấu nước lẩu hoặc nấu cháo. Nước lẩu được chế biến như tả-pí-lù trong Nam. Đặc biệt ở đây, người ta thường sử dụng xá xị làm nước lẩu, ăn rất lạ miệng. Gắp miếng cá mỏng nhúng vào nước lẩu như tái rồi cuốn với rau và bánh tráng, chấm với nước mắm nhỉ mằn mặn, ăn vào ngon tuyệt. Còn có thể chế biến nước lẩu như nước canh chua rồi nhúng cá vào, ăn với bún hoặc cơm.

Củ kiệu

Cu kieu
Để làm thẩu kiệu chuẩn bị cho ngày tết được ngon, thường họ lựa kiệu sẻ, đều củ, bởi kiệu sẻ giòn và thơm hơn kiệu trâu. Cắt lấy củ, bỏ lá, ngâm nước tro chừng hai đêm cho bớt hăng rồi vớt ra rửa sạch bỏ vào nia đem phơi khô. Sau khi kiệu đã khô, dùng dao bén cắt bỏ râu kiệu, lột bỏ lớp vỏ lụa bên ngoài rồi muốn ngâm kiệu mắm hoặc kiệu chua ngọt tùy ý thích. Muốn làm kiệu mắm thì cứ nửa lít nước mắm ngon nấu cùng với hai lạng đường cát cho sôi đều, hớt bọt kỹ, để nước mắm thật nguội, bỏ củ kiệu vào, đậy kín nắp. Cỡ chừng vài ba ngày là mắm đường đã thấm vào kiệu. Kiệu ngâm mắm ăn rất ngon, nhất là ăn với bánh tét cùng với thịt bì, hoặc thịt thưng.

Còn muốn làm kiệu chua ngọt, thì cứ nửa lít giấm hòa tan cùng hai lạng đường cát rồi cho củ kiệu vào, cho thêm ớt bột xay nhuyễn sẽ tạo vị cay và màu đỏ rất đẹp mặt. Đậy kín nắp thẩu, để chừng hai, ba ngày kiệu thấm, ăn được. Kiệu ngâm mắm, hoặc kiệu ngâm chua ngọt đều có vị ngon riêng của từng món. Ngoài ra, họ còn dùng kiệu non để luộc rồi chấm với nước mắm, ăn với cơm nóng.

Hiện nay, do nhu cầu của cuộc sống, thị trường lúc nào cũng có dưa kiệu làm sẵn. Tuy nhiên dưa kiệu chế biến ở dạng này không được ngon lắm, bởi đã bị mất đi độ giòn và mùi thơm của hương kiệu.





Bánh canh gạo

Banh canh gao
Bánh canh gạo là bánh canh được nấu bằng bột gạo, khác với bánh canh nấu bằng bột mì nhứt (còn gọi là bánh canh bột lọc). Bánh canh nấu bằng bột gạo hay bằng bột mì nhứt đều ngon, nhưng bánh canh gạo dễ tiêu hóa hơn nên nhiều người thích món này.

Bánh canh bột gạo thường được nấu với tôm, thịt hay nấm rơm, chả cá. Chọn gạo gạch, ngâm mềm, đem xay thành bột nước, rồi cho vào túi vải đăng cho thật ráo nước. Bóp bột đã đăng ra mâm, dùng nước thật sôi rưới đều lên bột (gọi là sú bột), nhồi bột thật đều tay, sao cho bột sú không được khô cũng không được nhão. Nếu bột sú bị khô, thì bột sượng, dễ gãy không xắt thành bánh canh được. Còn nếu bột bị nhão, thì bột sẽ chảy cũng không xắt được. Vì thế sú bột cũng phải biết cách, sao cho bột thật dẻo, thật dai, bánh canh mới ngon.


Nhồi bột xong bốc thành từng nắm để lên thớt, dùng vật tròn để cán bột ra thành từng miếng mỏng và to cỡ bằng bàn tay người lớn. Đun một nồi nước sôi, dùng dao bén xắt miếng bột thành từng con (gọi là con bánh canh), cần xắt nhỏ để khi con bánh chín nở ra là vừa. Cứ mỗi lần xắt xong là gạt ngay vào nồi nước đang sôi, cứ thế xắt rồi gạt cho đến khi hết bột. Xào tôm, thịt, hay chả cá cho thấm đổ vào nồi nước sôi đang luộc con bánh, nêm nếm vừa ăn, nhắc xuống. Trong quá trình sôi, con bánh canh nào xắt trước, sôi lâu sẽ bị nát, bị "đứt đuôi"; con bánh nào xắt sau, khi chín sẽ nguyên con. Vì lý do đó mà đã là bánh canh thì phải "con ngắn, con dài".

Lúc chín, con bánh nở ra cùng với những con bánh canh nát sẽ tạo nên độ dẻo của nồi bánh. Để nồi bánh canh thật hấp dẫn, cần thắng ớt màu đổ lên trên và rưới một ít hành hoa. Múc bánh canh ra tô, rưới thêm hành lá và tiêu, ai muốn ăn cay thì thêm một ít ớt màu, dùng muỗng xúc ăn. Bánh canh phải ăn nóng mới ngon.

Khoai deo

Khoai deo



Quảng Bình là vùng đất khí hậu khắc nghiệt nên khoai được trồng ở đây rất nhiều. Không như những thành phố lớn biết đến khoai qua những bát canh rau lá khoai, người Quảng Bình trồng khoai chủ yếu là để lấy củ.

Khoai ở Quảng Bình chủ yếu dâm bằng cành (gọi là ngọn khoai) chứ ít khi dâm bằng củ (khoai giống). Khoai phát triển khá nhanh. Khi thu hoạch người ta có thể mang luộc, nấu canh, nấu chè, làm bánh, làm mứt. Nhưng món ăn độc đáo nhất ở Quảng Bình được chế biến từ khoai là món đặc sẳn khoai deo.

Món khoai deo tuy mộc mạc, chế biến đơn giản nhưng lại mang hương vị rất riêng của Quảng Bình. Muốn làm khoai deo, khoai khi thu hoạch về để một thời gian cho củ khoai tan bớt bột rồi mang luộc, cắt lát và phơi khô. Khoai deo ăn bùi bùi béo béo ngọt ngọt lại dai dai.

Khoai deo từ lâu đã trở thành đặc sản của Quảng Bình. Người ở phương xa về, hay người từ nơi khác đến lúc ra đi, không ai mà không mang theo thứ khoai deo đậm đà hương vị đất Quảng này làm quà.

Cơm Pồi

Com Poi


Người Chứt có món cơm pồi được chế biến rất công phu. Nguyên liệu để làm món cơm pồi gồm: ngô hạt, lúa nếp nương, sắn củ. Ngô hạt ngâm nước trong khoảng nửa ngày, vớt ra để ráo, rồi cho vào cối giã mịn; lúa nếp nương giã loại bỏ vỏ trấu rồi giã gạo mịn thành bột; sắn củ bóc vỏ, thái mỏng, ép dập, vắt kiệt nước. Khi các nguyên liệu đã chuẩn bị xong, đồng bào trộn đều nguyên liệu với một ít nước lã, muối rồi cho vào ống tre, lấy lá chuối rừng nút chặt phần miệng để giữ nhiệt cho cơm mau chín. Để cho ống khỏi nứt, đồng bào dùng dao tước bỏ phần vỏ cứng bên ngoài của ống tre. Những ống tre đặt trên lửa than độ một giờ đồng hồ. Đến lúc có mùi thơm toả ra là cơm pồi đã chín. Cách nấu này giống với cách nấu cơm lam của một số DT thiểu số của các tỉnh phía Bắc, chỉ khác thành phần nguyên liệu.

Cách nấu thứ hai là bỏ các ống tre có đựng cơm pồi vào nồi, dựng miệng ống có bịt lá chuối lên trên, đổ nước vào đun cho đến khi nào toả ra mùi thơm là được.

Cách nấu thứ 3 giống cách đồ xôi của người Việt. Hiện nay cách nấu này tương đối phổ biến bởi vì tiện dụng. Nguyên liệu được cho vào chiếc chõ bằng gỗ, giữa chõ đặt một tấm phên nứa, lót lá chuối rừng trước khi đổ nguyên liệu vào đồ lên.

Trong 3 cách nấu trên thì cách hơ than có hương vị đặc biệt nhất: cơm pồi có vị thơm của lớp lụa tre rừng, độ dẻo cao.

Đồng bào Chứt thường ăn cơm pồi với canh rau rừng, nấu với các loại cá, ốc hoặc thịt thú rừng chặt thành miếng vừa phải đem nướng hay ướp muối, cho vào ống tre vùi trong lửa than.

Chắt chắt

Chat chat


Khúc sông Gianh chạy qua xã Phù Hoá, Quảng Trạch, Quảng Bình dài chừng bốn cây số. Đây là vùng giao thoa giữa nước lợ và nước ngọt. Vùng giao thoa này sinh ra một loài hến bé nhỏ, dân gian gọi là chắt chắt.

Hằng năm, vào cuối tháng Hai đầu tháng Ba âm lịch, sau một cơn mưa giông, nước ngọt đầu nguồn sông đổ về đây, gặp làn nước lợ từ dưới cửa biển dâng lên. Khí trời se lạnh, không gian khoáng đạt, hai làn nước trai tráng và nữ nhi ấy chảy oà vào nhau, tan trong nhau, nồng nhiệt trong nhau như một cuộc hoan lạc vĩ đại của sông nước, để rồi sinh ra hàng triệu hàng triệu triệu con chắt chắt nhỏ li ti.

Muốn ăn con chắt chắt cũng kỳ công lắm. Chắt chắt cào được đem xa (rửa) thật kỹ vài ba nước, để cho ráo rồi đun xoong nước thật sôi mới thả vào, bỏ ít muối hạt, dùng bó đũa đánh nhiều lần để gạt nhân sang xoong khác. Bị nước nóng, vỏ chắt chắt nở ra, mặt rời vỏ, nổi lên theo nước sang xoong khác. Cứ gạn qua gạn về cho hết mặt thì thôi. Nước chắt chắt sau khi nấu xong có thể làm canh chan ăn ngay với cơm, thêm chút muối ớt, gừng, cảm giác ngọt lịm.

Chắt chắt còn được xào với mít non lá lốt. Xưa nay, món này dành cho người nghèo. Mít non gọt vỏ, băm nhỏ, thêm một ít lá lốt thái mịn trộn đều xào với chắt chắt. Món này bây giờ được bán ở quán nhậu cũng “hút” khách đáo để vì nó được được dân nhậu phong là “đệ nhất dinh dưỡng” và “đệ nhất sạch”…

Người thích ăn kiểu thông thường thì có thêm ít rau muống hay rau tập tàng thái nhỏ đun vừa chín tới, chan với cơm hoặc bắp rang để ăn. Còn nhân chắt chắt nếu ăn bình thường thì đổ lẫn canh, nếu muốn làm món nhậu thì vớt ra cho vào chảo, bỏ ít dầu, gia vị xào lên, đem xúc bánh tráng, cam đoan ăn mệt nghỉ, còn ăn được chừng nào thì còn thèm chừng ấy. Món này hiện được các quán nhậu bình dân khai thác làm đồ nhậu vừa rẻ, vừa hút thực khách.

Lấy bánh đa xúc vào dĩa chắt chắt, dùng đũa gắp một ngọn rau thơm để lên trên và đưa vào miệng. Từ từ nhai để tận hưởng cái giòn tan của bánh đa, cái hương thơm đượm vị phù sa của vừng, cái ngầy ngậy của chắt chắt, trong một chút cay của ớt, một chút chua của cà, một chút nồng của tiêu, một chút thơm của hành tạo thành một hương vị thật khó quên.

Bánh tráng

Banh trang


Theo ông Nguyễn Tiến Thược, Chủ tịch UBND xã Quảng Thanh, sản phẩm bánh mè xát đã được người dân Tân An làm ra cách đây hơn 100 năm. Gạo làm bánh được chọn từ các loại gạo ngon, ngâm kỹ trong nước lạnh 3-4 giờ rồi vớt ra đãi sạch, cho vào cối nghiền thành bột sền sệt, trộn với mè đã xát vỏ, sau đó đem tráng phơi trên những chiếc phên đan bằng tre, nứa. Khi bánh đã khô, người ta đem vào ủ lại cho mặt bánh phẳng rồi mới bóc khỏi phên và đóng gói mang đi tiêu thụ.

Bánh gồm 2 loại, chủ yếu là bánh dày để nướng và bánh mỏng dùng để cuốn ram (bánh đa nem). Nắm bắt nhu cầu của thị trường, nhiều năm qua người dân nơi đây còn sản xuất ra loại bánh mè xát đường, có vị ngọt, béo và khá dẻo nên rất thuận lợi cho việc vận chuyển xa, khi nướng lên thơm phức. “Quảng Trạch có rất nhiều vùng sản xuất bánh tráng, bánh đa, nhưng bánh mè xát thì chỉ Tân An mới làm được”, ông Thược khẳng định.

Dọc theo con đường nhỏ chạy ven sông Gianh, làng Tân An hiện lên với những ngôi nhà xây kiên cố, khang trang, xóm làng trù phú, sạch sẽ. Bánh tráng được phơi san sát trên các con đường bê-tông, đến nỗi thật khó để phân biệt được bánh của nhà nào với nhà nào. Bà Nguyễn Thị Xinh, 55 tuổi, ở chòm 3 cho biết: “Tui tập tành tráng bánh từ nhỏ, đến năm 18 tuổi thì chính thức bước vào nghề. Làm bánh tráng không kể nắng mưa, phải luôn tay luôn chân, trời nắng thì phơi 3 giờ đồng hồ là bánh khô, trời mưa cực hơn, phải xông bánh trên gác bếp. Nhờ nghề làm bánh tráng mà gia đình tôi có cái ăn cái mặc”. Hiện, trung bình mỗi ngày gia đình bà Xinh tráng được hơn 1.000 cái bánh tráng, cứ 3 ngày lại mang ra chợ Ba Đồn hoặc đi bán rong ở các làng khác.

Monday, October 10, 2011

Hà Nội Ngày Nay

Đại lộ Thăng Long mới hoàn thành trong dịp đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.


Trung tâm hội nghị quốc gia.




Con đường gốm sứ đi qua khu vực cầu vượt Chương Dương.

Hồ Thành Công và hồ Hoàng Cầu (phải), ở giữa là phố Láng Hạ.

Đường Cổ Ngư xưa (Thanh Niên) nằm giữa hồ Tây và Trúc Bạch.

Sân vận động quốc gia Mỹ Đình, khánh thành năm 2003.

Đường vành đai 3 Phạm Hùng thẳng tiến đến sân bay quốc tế Nội Bài.

Tòa tháp The Manor ngã 3 đường Phạm Hùng.


Sông Hồng và 2 cây cầu Chương Dương, Long Biên.

Hồ Gươm nước xanh biếc với tháp rùa.



Hồ Thủ Lệ (quận Ba Đình).

Đường Nguyễn Chí Thanh, một trong những con đường được bình chọn đẹp nhất Việt Nam.


Những mái nhà đỏ đặc trưng của vùng ven Tây Hồ.


Khu đô thị Văn Khê và Xa La, quận Hà Đông đang trên đà phát triển.